Robot công nghệ cao và trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra hướng tiếp cận mới trong phẫu thuật thay khớp, hỗ trợ lập kế hoạch, phân tích dữ liệu trong mổ. Tuy nhiên, công nghệ có thể hỗ trợ bác sĩ đến đâu và những yếu tố nào quyết định hiệu quả điều trị lâu dài cho người bệnh?
Robot có phải là yếu tố quyết định thành công của ca phẫu thuật thay khớp?
Những năm gần đây, robot hỗ trợ phẫu thuật thay khớp ngày càng phát triển. Tại Việt Nam, ứng dụng robot trong thay khớp cũng dần trở thành xu hướng, hỗ trợ bác sĩ lập kế hoạch và thực hiện phẫu thuật.
Nếu trước đây, phẫu thuật viên chủ yếu dựa vào phim chụp, các mốc giải phẫu và kinh nghiệm để tính toán, căn chỉnh và thực hiện từng bước khi phẫu thuật, thì nay nhiều công đoạn đã được số hóa. Các hệ thống robot tích hợp AI có thể hỗ trợ dựng mô hình giải phẫu, lập kế hoạch, tính toán vị trí cắt xương, xác định vị trí đặt khớp nhân tạo và cung cấp các thông số hỗ trợ phẫu thuật theo thời gian thực.

Chuyên gia từ 6 nền y tế trao đổi những yếu tố tạo nên thành công của 1 ca phẫu thuật thay khớp tại Hội thảo
Tuy nhiên, công nghệ không hoạt động độc lập mà cần được đặt trong chiến lược điều trị của phẫu thuật viên. Đây cũng là chủ đề vừa được các chuyên gia trao đổi tại Hội thảo “Những tiến bộ trong phẫu thuật khớp háng và khớp gối” mới diễn ra vào ngày 17-18/10/2026 tại BVĐK Hồng Ngọc - Phúc Trường Minh.
Hội thảo quy tụ các chuyên gia chấn thương chỉnh hình đến từ 6 quốc gia và vùng lãnh thổ gồm: Việt Nam, Áo, Đức, Nhật Bản, Ấn Độ và Đài Loan (Trung Quốc), với 18 báo cáo chuyên môn trong 2 phiên và 2 ca phẫu thuật trực tiếp, qua đó chia sẻ kinh nghiệm lựa chọn và phối hợp với công cụ hỗ trợ để tối ưu kết quả thay khớp.
_4.png)
GS.TS.BS Hiranaka Takafumi chia sẻ bài báo cáo tại Hội thảo
Trong hội thảo, GS.TS.BS Hiranaka Takafumi (Giám đốc Trung tâm Phẫu thuật Khớp, Trưởng khoa Phẫu thuật Chấn thương Chỉnh hình, Bệnh viện Đa khoa Takatsuki, Nhật Bản) đưa ra dẫn chứng qua báo cáo: “Thay khớp gối toàn phần theo nguyên lý cân bằng động học (KA-TKA) sử dụng phương pháp đo bằng thước cặp và robot ROSA”.
Ông cho biết: “Robot có thể hỗ trợ bác sĩ đo đạc, phân tích và kiểm soát những thông số có thể định lượng. Tuy nhiên, phẫu thuật diễn ra trên cơ thể sống với nhiều biến số như chất lượng xương, dây chằng, mô mềm, gân cơ và cơ lực, đòi hỏi phẫu thuật viên phải trực tiếp đánh giá và điều chỉnh.
Tại Nhật Bản, bên cạnh hệ thống robot ROSA, phương pháp đo bằng thước cặp còn được sử dụng để kiểm tra trực tiếp độ dày các lát cắt xương đùi và xương chày. Việc đối chiếu kết quả đo với các thông số được cung cấp giúp bác sĩ kiểm tra đường cắt và đánh giá mức độ phù hợp của các thành phần khớp nhân tạo. Cách tiếp cận này cho thấy công nghệ và thao tác kiểm tra trực tiếp có thể bổ trợ cho nhau trong quá trình phẫu thuật”.
_4.png)
TS.BS Lê Quang Huy (bên phải) chia sẻ quan điểm về robot AI
Tuy nhiên, độ chính xác của các thông số không đồng nghĩa với việc công nghệ có thể tự quyết định toàn bộ phương án phẫu thuật. Cơ thể người bệnh có những đặc điểm riêng về cấu trúc xương, dây chằng và mô mềm; các yếu tố này cần được đánh giá trực tiếp để bác sĩ đưa ra quyết định phù hợp. Từ thực tiễn này, năng lực làm chủ công nghệ trở thành một yêu cầu quan trọng đối với phẫu thuật viên.
TS.BS Lê Quang Huy (Trưởng Khoa Ngoại Chấn thương chỉnh hình - Thần kinh sọ não BVĐK Hồng Ngọc - Phúc Trường Minh) cho rằng: “Robot hay công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi bác sĩ nắm vững nguyên lý vận hành, hiểu các thông số để ứng dụng trong phẫu thuật. Bên cạnh việc làm chủ công nghệ, phẫu thuật viên cần được đào tạo bài bản về nguyên lý thay khớp, kỹ thuật căn chỉnh, cách kiểm tra các thông số và xử lý những thay đổi phát sinh trong quá trình phẫu thuật”.
Những tiến bộ này cho thấy công nghệ đang ngày càng mở rộng vai trò trong phẫu thuật thay khớp. Tuy nhiên, hiệu quả điều trị không chỉ được quyết định bởi độ chính xác trong phòng mổ mà còn phụ thuộc vào chỉ định, chiến lược phẫu thuật, tình trạng của người bệnh và quá trình phục hồi sau mổ.
Hiệu quả thay khớp không chỉ đến từ công nghệ mà còn từ chiến lược phục hồi
Nếu công nghệ và kỹ thuật phẫu thuật góp phần quyết định độ chính xác trong mổ, thì kiểm soát đau và phục hồi chức năng lại ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình người bệnh lấy lại khả năng vận động. Vì vậy, hiệu quả thay khớp cần được nhìn nhận xuyên suốt từ khâu đánh giá trước mổ, lựa chọn phương án phẫu thuật đến chăm sóc và phục hồi sau mổ.
Tại BVĐK Hồng Ngọc - Phúc Trường Minh, kế hoạch điều trị thay khớp được xây dựng với sự phối hợp đồng bộ giữa các chuyên khoa, nhằm kiểm soát những yếu tố ảnh hưởng đến an toàn phẫu thuật và khả năng hồi phục của người bệnh. Trong đó, có chiến lược phục hồi sớm sau phẫu thuật (ERAS) chú trọng chuẩn bị trước mổ, kiểm soát đau chủ động, hỗ trợ dinh dưỡng và khuyến khích vận động sớm khi tình trạng người bệnh cho phép.
_2.png)
Tại BVĐK Hồng Ngọc công nghệ hỗ trợ phẫu thuật viên trong phẫu thuật thay khớp
Thay vì chỉ xử trí khi cơn đau xuất hiện, kế hoạch giảm đau được xây dựng từ trước và cá thể hóa theo từng trường hợp, có thể kết hợp thuốc giảm đau với các kỹ thuật gây tê vùng phù hợp. Khi đau được kiểm soát tốt, người bệnh có điều kiện thuận lợi hơn để bắt đầu tập vận động, phối hợp với nhân viên y tế trong quá trình phục hồi chức năng và từng bước lấy lại khả năng đi lại.
_2.png)
Bệnh nhân đi lại sau 24h phẫu thuật khớp gối, nhờ chiến lược điều trị đồng nhất
Bên cạnh điều trị, đào tạo và phát triển chuyên môn cũng là một phần trong định hướng nâng cao chất lượng phẫu thuật tại bệnh viện. BVĐK Hồng Ngọc - Phúc Trường Minh được Hiệp hội Phẫu thuật Hoàng gia Anh (RCS) công nhận là Trung tâm đào tạo ngoại khoa. Đây là nền tảng hỗ trợ hoạt động đào tạo, cập nhật kiến thức và phát triển năng lực thực hành của đội ngũ chuyên môn.
Những nội dung được trao đổi tại hội thảo cho thấy, tiến bộ trong phẫu thuật thay khớp không chỉ nằm ở việc ứng dụng công nghệ mới mà còn ở cách kết hợp công nghệ với kinh nghiệm lâm sàng, năng lực ra quyết định của phẫu thuật viên và chiến lược phục hồi phù hợp. Khi các yếu tố này được phối hợp chặt chẽ, mục tiêu điều trị không chỉ dừng ở một ca mổ chính xác mà còn hướng tới khả năng vận động tốt hơn và chất lượng sống lâu dài cho người bệnh.