Cấp cứu: 1900 636 555

024 3927 5568

  |  

Viêm xoang – Bệnh không của riêng ai

Viêm xoang là bệnh lý khá phổ biến, có thể gặp ở bất cứ ai. Bệnh gây nhiều triệu chứng khó chịu, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống thường ngày của bệnh nhân, rất dễ tái phát nên cần được phát hiện và điều trị sớm để đem lại hiệu quả cao nhất.

Viêm xoang là bệnh gì?

Viêm xoang còn được gọi là viêm mũi xoang, là tình trạng nhiễm trùng, viêm niêm mạc hô hấp lớp lót trong các xoang cạnh mũi. Khi bị viêm xoang, lớp niêm mạc phù nề gây tăng tiết dịch nhầy, trong khi phù nề thu hẹp đường kính các lỗ xoang khiến cho dịch không thoát ra ngoài được dẫn đến tắc nghẽn xoang. Tác nhân gây nên tình trạng này là vi trùng, siêu vi trùng hoặc do dị ứng.

Viêm xoang nếu chỉ diễn ra trong thời gian ngắn và khỏi trước 4 tuần thì được gọi là viêm xoang cấp tính. Viêm xoang kéo dài trên 3 tháng và tái đi tái lại thì gọi là viêm xoang mãn tính.

viem-xoang

Viêm xoang là bệnh lý có thể gặp ở bất cứ ai, gây nhiều triệu chứng khó chịu

Viêm xoang là tình trạng viêm của lớp niêm mạc lót trong xoang. Yếu tổ khởi phát thường gặp nhất là bệnh viêm mũi họng cấp cảm.

Viêm xoang là một trong số các bệnh phổ biến nhất. Nước ta chưa có thống kê đầy đủ. Ở Hoa Kỳ, viêm xoang ảnh hưởng hơn 31 triệu người mỗi năm ước tính chi phí hàng năm khoảng 150 triệu đô la chỉ riêng cho các thuốc đế điều trị viêm xoang.

Viêm xoang cấp hiếm khi chỉ giới hạn ở một xoang bởi vì bệnh tích ban đầu ảnh hưởng tới phức hợp lỗ thông mũi xoang. Người thấy thuốc cần ghi nhận được các yếu tố thuận lợi ảnh hưởng lên sự phát sinh và phát triển của bệnh viêm xoang.

Chẩn đoán viêm xoang cấp thường không khó nhưng chẩn đoán viêm xoang mạn thường phức tạp hơn vì có thể bị che lấp bởi các yếu tố khác. Bác sĩ gia đình, bác sĩ chuyên khoa nhi, bác sĩ dị ứng nhi và bác sĩ tai mũi họng có thể làm tăng khả năng chẩn đoán viêm xoang chủ yếu ở trẻ em. Với sự phát triển của chụp mật độ cắt lớp và sự phát triển của kỹ thuật nội soi mũi, sự hiểu biết và chẩn đoán viêm xoang đã cải thiện.

Phân loại viêm xoang

Phân loại viêm xoang dựa trên bệnh học có lợi trong xử trí bệnh nhân. Có lợi khi xác định một xoang hay nhiều xoang bị ảnh hưởng và thời gian bệnh.

Viêm xoang mưng mủ cấp: là quá trình nhiễm trùng ở xoang kéo dài từ 1 ngày đến 4 tuần.

  • Các triệu chứng khởi phát đột ngột.
  • Thời gian nhiễm trùng có giới hạn.
  • Tự khỏi hoặc khỏi do điều trị.
  • Các giai đoạn bệnh có thể tái phát nhưng giữa các giai đoạn niêm mạc bình thường.
  • <4 lần mỗi năm.

Xử trí viêm xoang cấp chủ yếu là điều trị nội khoa, điều trị ngoại khoa hiếm khi cần đến.

Viêm xoang mưng mủ bán cấp: là nhiễm trùng xoang kéo dài từ 4 tuần đến 3 tháng(12 tuần). Trong viêm xoang bán cấp, quá trình viêm thường còn có thể phục hồi. Chỉ định điều trị nội khoa, phẫu thuật hiếm khi cần thiết trong giai đoạn bán cấp.

Viêm xoang cấp tái phát: Bệnh nhân có hơn 1 lần bệnh/năm với sự phục hồi hoàn toàn giữa các cơn tối đa 4 cơn/năm.

Viêm xoang mưng mủ mạn là danh từ được dùng khi viêm xoang kéo dài hơn 3 tháng, chủ yếu viêm xoang mạn là do viêm xoang cấp được xử trí không thích hợp hoặc điều trị không đầy đủ. Quá trình này không thể phục hồi, hậu quả của nó là, điều trị nội khoa hiếm khi có lợi trong việc phục hồi quá trình viêm sau khi đã đi vào giai đoạn mạn sau 3 tháng. Điều trị ngoại khoa được chỉ định đối với viêm xoang mưng mủ mạn. Giải quyết thông khí và dẫn lưu xoang là để giải quyết các triệu chứng của viêm xoang mạn.

Đợt cấp của viêm mũi xoang mạn:

  • Đợt viêm cấp kéo dài <4 tuẩn với các triệu chứng xấu hơn và xuất hiện các triệu chứng xấu hơn và xuất hiện các triệu chứng mới.
  • Các triệu chứng cấp mất đi sẽ để lại tình trạng viêm mạn làm nền.

Để phân loại và nhận dạng xoang bị ảnh hưởng, thầy thuốc đầu tiên phải xác định vị trí và bên xoang bị ảnh hưởng và ghi nhận thời gian của quá trình. Điều này có ích cho việc chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị. Chủ yếu viêm xoang mưng mủ cấp và bán cấp được điều trị nội khoa. Trong khi viêm xoang mưng mủ mạn là điều trị ngoại khoa. 

Dấu hiệu của bệnh viêm xoang

Với những trường hợp bệnh nặng, sẽ xuất hiện các triệu chứng điển hình sau:

Đau nhức

Tùy thuộc vào mức độ, vị trí xoang bị viêm thì cảm giác đau nhức cũng sẽ khác nhau. Nếu viêm xoang hàm thì sẽ gây đau nhức vùng má, viêm xoang sàng trước thì người bệnh thấy đau nhức vùng giữa 2 mắt, nếu viêm xoang trán thì gây đau nhức khu vực giữa 2 hàng lông mày, viêm xoang bướm gây đay nhức vùng gáy, đau sâu trong mũi.

Chảy dịch

Chảy dịch nhày mũi là hiện tượng mà hầu hết ai bị viêm xoang cũng gặp phải. Dịch nhày có thể chảy xuống họng hoặc chảy ra mũi trước. Chảy dịch mũi khiến người bệnh thường xuyên phải khụt khịt và khó chịu ở cổ họng, khạc nhổ liên tục. Tùy vào mức độ bệnh, dịch mũi có thể có màu trắng đục, vàng nhạt, hay màu xanh và có mùi hôi khó chịu.

Nghẹt mũi

Nghẹt mũi có thể là biểu hiện của bệnh cảm cúm thông thường nhưng ai bị viêm xoang dường như cũng phải đối mặt với tình trạng này. Người bệnh có thể bị nghẹt 1 hay 2 bên mũi rất khó chịu và mệt mỏi.

viem-xoang

Nghẹt mũi, chảy nước mũi là triệu chứng mà hầu hết bệnh nhân viêm xoang đều gặp phải

Điếc mũi

Viêm xoang nếu không được điều trị sớm thì bệnh sẽ ngày càng nặng, gây phù nề nhiều và bệnh nhân có thể không phân biệt được mùi do thần kinh khứu giác bị ảnh hưởng.

Ngoài 4 triệu chứng phổ biến trên, người bị viêm xoang còn có thể thấy xuất hiện một số triệu chứng như sốt, đau xung quanh mắt, đau nhức khi hắt hơi, chán ăn, mệt mỏi…

Đối tượng dễ mắc viêm xoang

Ai cũng có thể bị viêm xoang vì đây là căn bệnh khá phổ biến, không phân biệt giới tính, độ tuổi… Tuy nhiên, những người dưới đây có nguy cơ mắc viêm xoang hơn những người bình thường khác:

  • Phụ nữ mang thai hệ miễn dịch suy yếu dễ bị vi khuẩn, siêu vi tấn công gây bệnh.
  • Người có bất thường các cơ quan như: phì đại cuống mũi, vẹo vách ngăn mũi.
  • Người thường xuyên tiếp xúc với trẻ nhỏ.
  • Người có thói quen hút thuốc.

Nguyên nhân gây bệnh viêm xoang

Các nguyên nhân tại chỗ và yếu tố môi trường

Các yếu tố tại chỗ, tại vùng tạo ra sự xâm nhập thứ phát của vi trùng vào trong xoang có liên quan đến sự suy giảm chức năng vận chuyển nhầy lông chuyển. Hít không khí lạnh và khô có thể đưa tới suy giảm chức năng nhầy lông chuyển và đưa tới viêm  xoang.

Đa số nguyên nhân tại vùng tạo ra viêm xoang mưng mủ là nhiễm trùng chóp răng (đặc biệt là các răng 4,5,6, hàm trên liên quan mật thiết với xoang hàm), hoặc các nguyên nhân tại chỗ như chấn thương, có thể làm thay đổi giải phẫu của phức hợp lỗ thống khe.

Bệnh lý vách ngăn cũng có thể gây nên tắc nghẽn cơ học thứ phát. Hẹp của mũi sau có liên quan tới sự dẫn lưu của mũi cũng có thể là yếu tố thuận lợi. Phù nề thứ phát sau nhiễm trùng đường hô hấp dưới cũng có thể làm tắc lô thông khe, vi khuẩn có. the di vào trong xoang và tạo ra viêm xoang mưng mủ.

Chấn thương áp lực: thay đổi án suất trong quá trình du lịch bằng máy bay, bơi lội hoặc lặn cũng có thể tạo ra phù nề của lỗ thông khe, và bơi lội trong môi trường nước ô nhiễm cũng có thể tạo thuận lợi cho vị trùng đi vào trong mũi và xoang và tạo ra viêm xoang mưng mủ.

Polyp mũi, dị vật mũi. hoặc nhét bấc mũi có thể làm thay đổi thông khí của xoang và tạo ra viêm xoang. Các khối u mũi cũng có thể là yếu tố thuận lợi trong việc phát triển viêm xoang do vi trùng. Hội chứng bất động lông chuyển hoặc rối loạn vận động của lông chuyển, một rối loạn bẩm sinh ảnh hưởng đến sự lạc hướng của lông chuyển và bất thường cánh tay dynein cũng có thể tạo ra viêm xoang và viêm phế quản do mất sự thanh lọc nhầy. 

Các yếu tô toàn thân tạo thuận lợi

Các yếu tố toàn thân tạo thuận lợi cho sư phát triển của viêm mũi xoang la trang suy nhược như kém dinh dưỡng, dùng corticoid dài ngày, tiểu đường không kiêm soát, hóa trị liệu, hoặc các yếu tố khác góp phần như di ứng, ình trạng suy giảm chuycn hóa.

Viêm xoang cũng có thể biểu hiện một tình trang suy giảm miễn địch huyết thành nghiệm trọng như thiếu IgG. Sự thiếu này nên được xem xét ở tất cả các trường hợP viêm xoang tái phát. Viêm xoang cũng có thể là biểu hiên của suy giảm miễn dịch màc phải (AIDS).

Đã có báo cáo rằng có ít nhất 80% trường hợp AIDS có biểu hiện viêm xoang. Trong thực tế, bác sĩ tai mũi họng có thể gặp bênh nhân AIDS với biểu hiện viêm xoang tái phát như là biểu hiện đầu tiên của bệnh AIDS.

Về phần nguyên nhân, các yếu tố toàn thân khác cũng có thể tạo thuận lợi cho sựư phát triển của viêm xoang do vị trùng. Nhận dạng các yếu tố có sẵn không chỉ hiệu quả trong xử trí đúng mà còn loại bỏ nguyên nhân thuận lợi chủ yếu nếu xảy ra ở mũi hoặc ở rằng. Do đó điều quan trọng trong xử trí viêm xoang tái phát là giải quyết các yếu tố thuận lợi.

Phương pháp điều trị bệnh viêm xoang

Viêm xoang gây nhiều triệu chứng khó chịu, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống thường ngày của người bệnh. Nếu không được chữa trị sớm, bệnh chuyển sang giai đoạn mãn tính rất khó chữa dứt điểm mà lại dễ tái phát. Vì vậy, cần điều trị ngay khi thấy xuất hiện những biểu hiện của viêm xoang.

thuoc-khang-sinh

Điều trị nội khoa thường được áp dụng cho các trường hợp viêm xoang cấp tính

Bệnh viêm xoang có thể được áp dụng hai phương pháp điều trị là nội khoa và phẫu thuật. Tùy thuộc vào tình trạng bệnh cũng như sức khỏe của bệnh nhân, bác sĩ sẽ chỉ định phương pháp hiệu quả nhất để chữa trị và tránh gây những tác dụng phụ không mong muốn.

Điều trị nội khoa

Kháng sinh là chìa khóa cho điều trị nội khoa viêm xoang cấp. Penicilline G là kháng sinh chọn lựa tốt ban đầu và là trị liệu xác định cho trực trùng gram đương và gram âm và cầu trùng gram âm.

Amoxicilline được sử dụng để bao vây Haemophilus influenzae tuy nhiên bêta-lactamase dương tính và H.influenza và B.catarrhalis kháng Ampi/Amo đã phát triển. Cefaclor, Trimethoprim sulfate hoặc Erythromycine sulfate, và Augmentin (amoxicilline và potassium clavulanate) thích hợp đối với đại đa số các tác nhân gá. bệnh viêm xoang cấp.

Augmentin chứng tỏ có hiệu quả như Cefaclor trong cả hai nhóm người lớn và trẻ em trong viêm xoang cấp. Růi thay có một tỷ lệ trẻ em cũng như người lớn có triệu chứng dạ dày ruột khi dùng Augmentin. Nếu tác dụng phụ này xảy ra, hãy ngừng Augmentin và dùng Cefaclor. Cần chú ý khai thác tiền sử dị ứng thuốc kháng sinh từ bệnh nhân hoặc cha mẹ bệnh nhi.

Cải thiện lâm sàng thường xảy ra sau 48-72 giờ sau khi sử dụng kháng sinh. Bệnh nhân bị sốt nhẹ sẽ hết sốt, chảy mũi giảm đáng kể, và ho đặc biệt là ở trẻ con giảm rõ rệt.

Liệu pháp kháng sinh nên dùng liên tiếp ít nhất là 7 ngày sau khi các triệu chứng biến mất. Thời gian điều trị trung bình từ 10 ngày tới 2 tuần.

Thuốc co mạch tại chỗ và co mạch toàn thân có lợi và tạo thuận lợi cho sự oxy hóa và dân lưu mủ trong xoang bằng cách giảm phù nề niêm mạc lỗ thông khe.

Thuốc chống dị ứng nên dùng ở bệnh nhân mà dị ứng được xem như là yếu tố thuận lợi  cho viêm xoang.

Thuốc giảm đau để kiểm soát đau.

Thuốc tan đàm có lợi ở vài bệnh nhân chủ yếu khi chất xuất tiết dầy.

Corticosteroid: Dạng xịt mũi làm giảm hiện tượng viêm, là phương tiện vàng trong xử trí polyp mũi.

Các phương pháp điều trị không dùng thuốc

  • Khí dung.
  • Làm ẩm môi trường.
  • Rửa mũi bằng nước muối sinh lý.

Tất cả các phương pháp điều trị này làm mềm vẩy và làm ẩm niêm mạc. Mặt khác cẩn hướng dẫn bệnh nhân bản chất của các rối loạn và kế hoạch điều trị.

Bệnh nhân nên hiểu rằng điều trị nội khoa chỉ là một phẩn trong quá trình điều trị và đội khi phải điều trị ngoại khoa khi cần thiết, ở phòng khám hoặc ở phòng mổ.

Bệnh nhân cũng phải hiếu rằng vai trò của bác sỹ là cố tìm các yếu tố thuận lợi bằng cách dùng X quang, thử máu hoặc thậm chí phải phẫu thuật để giải quyết yếu tố thuận lợi. 

Điều trị ngoại khoa

Điều trị ngoại khoa tạo thuận lợi cho sự dẫn lưu của xoang bị bệnh và lấy đi niêm mạc bị bệnh và lấy đi niêm mạc bị bệnh. Điều này có thể đòi hỏi phải làm khẩn cấp khi có các biến chứng hoặc khi đau dữ dội, hoặc khi bệnh nhân không đáp ứng với điều trị nội khoa thích hợp.

  • Chọc rửa xoang.
  • Phẫu thuật nội soi mũi xoang.
  • Phẫu thuật xoang kinh điển.

Chọc rửa xoang hàm

Sử dụng trong lịch sử, tuy nhiên so với phương pháp điều trị nội khoa hiện đại nó không có thuận lợi gì hơn.

Phương pháp này có tác động giúp lấy đi các mảnh vụn và tái lập thông khí. Chọc rửa xoang không có hiệu quả trong vấn đề tắc phức hợp lỗ thông khe của viêm xoang mạn.

Lợi ích chủ yếu của chọc rửa xoang hàm là lấy đi mủ nhẩy từ xoang bị bệnh và tạo thuận lợi cho sự thông khí (oxy hóa) của xoang. Khi chọc rửa xoang hàm thì dịch lấy ra nên được nuôi cấy tìm vi trùng thông thường, trực trùng acid nhanh và vi trùng kỵ khí.

Hiếm khi tế bào học được dùng để chẩn đoán bệnh lý ác tính trong trường hợp mở xoang hàm một bên không giải thích được. Trong những trường hợp này, chọc rửa xoáng vua là điều trị vừa giúp ích cho chẩn đoán. Mỗi khi mờ xoang hàm một bên không giai thích được phải được theo dõi nghi ngờ ác tính cho đến khi có bằng chứng ngược lại.

Phẫu thuật nội soi xoang

Là phẫu thuật cho phép phục hồi sự thanh loc nhầy lông chuyển và thông khí qua lô thông tự nhiên. Phẫu thuật đuổi theo bệnh tích. Từ chối quan niệm trước đó là bệnh lý niêm mạc không thể phục hồi.

Phẫu thuật xoang kinh điển

Là phẫu thuật lấy đi toàn bộ niêm mạc xoang. Trước kia khi chưa có ống nội soi, người ta thường dùng phẫu thuật này. Từ khi có ống nội soi ra đời người ta chỉ dùng phẫu thuật này trong trường hợp không thể bảo tồn niêm mạc xoang: thí dụ nấm xoang hàm xâm lấn.

Viêm xoang là bệnh lý thường gặp, nhất là ở đất nước khí hậu nhiệt đới ẩm như nước ta. Vì thế, cần đi chữa sớm khi bệnh mới xuất hiện đã ngăn ngừa dẫn đến tình trạng mãn tính khó chữa mà lại gây nhiều triệu chứng khó chịu.

Bài viết trên đây có tham khảo nội dung bài viết “Viêm xoang – Nhà xuất bản y học” ( tác giả Phạm Kiên Hữu), hy vọng phần nào cung cấp những thông tin cần tin cần thiết về vấn đề bạn đọc đang quan tâm. Theo dõi fanpage của Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc để biết thêm thông tin bổ ích khác: https://www.facebook.com/BenhvienHongNgoc/

Bài viết liên quan