1900 636 555

024 3927 5568

  |  

Tổng hợp 4 chức năng sinh lý của gan

Gan là một cơ quan quan trọng giúp vận hành nhiều chức năng khác nhau, mỗi chức năng lại đảm nhiệm những nhiệm vụ khác nhau duy trì sự sống của cơ thể.

Chức năng tạo mật – giúp tiêu hóa lipid

Mật do gan sản xuất ra, sau đó các ống dẫn mật sẽ đưa mật chảy xuống dự trữ ở túi mật, cô đặc ở túi mật và xuống tá tràng khi tiêu hóa.

Trung bình một ngày gan bài tiết 1 lít mật để nhũ tương hóa lipid và hấp thu các vitamin (A, K, D, E) tan trong dầu.

Mật được cấu thành bởi nước, muối mật, cholesterol và bilirubin:

  • Muối mật (muối kali hoặc natri) có tác dụng nhũ tương hóa lipid và hấp thu các sản phẩm tiêu hóa của lipid, các vitamin tan trong lipid.
  • Cholesterol trong dịch mật góp phần điều chỉnh cholesterol trong máu
  • Billirubin hình thành ở gan từ sản phẩm thoáI hoá hemoglobin trong cơ thể sau đó thải ra theo dịch mật. Bác sĩ sẽ chẩn đoán tắc mật thông qua bilirubin.

Chức năng chuyển hóa

Chuyển hóa glucid

Glucid từ ruột bao gồm có glucose, galactose và fructose, các chất sẽ theo tĩnh mạch cửa về gan. Trong đó, gan sẽ chuyển fructose và galactose thành glucose trước khi sử dụng.

Ngoài ra, gan sẽ chuyển acid amin sinh đường, acid béo, glycerol và acid lactic thành acid pyruvic hoặc phosphopyruvic rồi tiếp tục thành glucose-6-phosphat, cuối cùng là thành glucose.

Chức năng chuyển hóa Glucid của gan

Chuyển hóa lipid

Gan là nơi chuyển hóa lipid xảy ra nhanh và mạnh mẽ nhất, quá trình này có tác dụng tổng hợp cholesterol và tổng hợp cetonic.

 Các acid béo từ glucid, procid và các sản phẩm thoái hóa của lipid được gan tổng hợp, sau đó acid béo sẽ được chuyển hóa theo chu trình cũng cấp cho máu.

Bên cạnh đó, gan còn tổng hợp phospholipid và lipoprotein là các dạng vận chuyển lipid chủ yếu cho cơ thể.

Chuyển hóa protid

Gan là bộ phận chuyển hóa và dữ trự protid cho cơ thể. Quá trình chuyển hóa protid gồm hai 2 giai đoạn là chuyển hóa acid amin và tổng hợp protein.

  • Chuyển hóa acid amin: thông qua 3 quá trình: khử carboxyl, khử amin và trao đổi amin (quá trình quan trọng nhất để gan tổng hợp các acid amin nội sinh đặc hiệu cho cơ thể)
  • Tổng hợp protein: 50% lượng protein trong cơ thể được tế bào gan sản xuất vì thế khả năng tái sinh của gan rất mạnh.

Gan còn có thêm 2 chức năng: tổng hợp protein huyết tương và tổng hợp các yếu tố đông máu, vì vậy khi suy gan, protein máu giảm gây sưng phù, quá trình đông máu rối loạn dễ bị xuất huyết.

Chức năng dự trữ

Dự trữ máu

Bình thường, gan chứa lượng máu khá lớn khoảng 600-700ml. Sau khi truyền dịch, sau bữa ăn, uống nhiều nước… khiến áp suất máu tại tĩnh mạch gan tăng lên, gan có thể chứa thêm khoảng 200 – 400 ml máu.

Và ngược lại, gan sẽ co lại khi cơ thể hoạt động hoặc khi thể tích máu giảm để đưa một lượng máu vào hệ tuần hoàn.

Dự trữ Gluicid

Glucid trong gan được dự trữ dưới dạng glycogen, có thể đủ cung cấp năng lượng hoạt động cho cơ thể trong vòng vài giờ.

Gan còn tham gia điều hòa đường huyết thông qua việc dự trữ glycogen. Đường huyết tăng, tăng tổng hợp glycogen để dự trữ, còn khi đường huyết hạ, tăng cường phân ly glycogen để đưa glucose vào máu để ổn định đường huyết.

Tổng hợp chức năng gan

Dự trữ sắt

3 cơ quan dự trữ sắt cho cơ thể gồm có gan, lách và tùy xương, lượng sắt dữ trữ lấy từ thức ăn hoặc sự thoái hóa Hb (Hemoglobin).

Sắt được gan dự trữ dưới dạng ferritin và sẽ được đưa đến cơ quan tạo máu nhờ transferrin do gan sản xuất ra.

Dự trữ vitamin

Gan có khả năng dự trữ một số vitamin như A (10 tháng), D (3-4 tháng), B12 (1- vài năm) cho cơ thể, trong đó B12 là vitamin quan trọng nhất.

Chức năng chống độc, giải độc

Để bảo vệ cơ thể, gan đóng vai trò như hàng rào ngăn chặn các yếu tố độc hại xâm nhập qua đường tiêu hóa. Gan làm giảm độc tính và thải trừ một số chất được tạo ra trong quá trình chuyển hóa của cơ thể.

Gan chống độc bằng 2 cơ chế:

  • Giữ lại kim loại nặng như đồng, chì, thủy ngân … sau đó sẽ thải ra ngoài
  • Biến các chất độc thành chất không độc hoặc ít độc hơn bằng các phản ứng hóa học sau đó thải ra ngoài qua đường mật hoặc đường thận.
  • Rất nhiều chất như bilirubin, alkaloid, phenol, hormone steroid, các loại thuốc (kháng sinh, aspirin, barbiturate…) sẽ được kết hợp với acid glucuronic sau đó thải ra trong nước tiểu hoặc dịch mật.

Bài viết liên quan