1900 636 555

024 3927 5568

  |  

Sau thai trứng bao lâu có thể mang thai?

Thai trứng là bệnh lý chỉ sự phát triển bất thường của gai nhau, có ảnh hưởng xấu đối với bào thai và sức khỏe sinh sản của người mẹ, đòi hỏi cần phát hiện và điều trị sớm để ngăn chặn biến chứng. 

Thế nào là thai trứng?

Bình thường sau khi tinh trùng và trứng kết hợp với nhau thì hiện tượng thụ tinh sẽ diễn ra. Sau khi thụ tinh, trứng sẽ di chuyển vào lòng tử cung và bám dính làm tổ trên niêm mạc tử cung, hình thành thai nhi và các phần phụ khác như bánh nhau và túi ối. 

Trường hợp nguyên bào nuôi phát triển quá nhanh khiến tổ chức liên kết trong gai nhau cùng với mạch máu không phát triển theo kịp và bị thoái hóa, phình to và phù nề thành các túi chứa dịch, dính chùm lấy nhau như chùm nho, có đường kích từ 1mm đến vài chục milimet lấn át bào thai và chiếm đầy lòng tử cung. Tình trạng này được gọi là thai trứng (chửa trứng)

Thai trứng được phân chia thành: 

  • Thai trứng hoàn toàn: Không có sự xuất hiện của tổ chức thai nhi, gai nhau phình to, mạch máu lông rau biến mất, tế bào nuôi tăng mạnh. 
  • Thai trứng bán phần: vẫn có sự hiện diện của thai nhi hoặc 1 phần của thai nhi. Gai nhau phần lớn biến thành túi nước, phần còn lại bình thường. 

Yếu tố dẫn đến hình thành thai trứng

Nguyên nhân dẫn đến thai trứng đến nay y học vẫn chưa tìm ra được chính xác, chỉ xác định được các yếu tố ảnh hưởng dưới đây:

  • Trong quá trình thụ tinh có sự sai sót của yếu tố di truyền dẫn đến bất thường ở bộ nhiễm sắc thể. 
  • Phụ nữ mang thai muộn sau 40 tuổi hoặc mang thai sớm dưới 20 tuổi
  • Phụ nữ trải qua việc sinh đẻ nhiều lần, có tiền sử thai nghén lần đầu không bình thường, bất thường ở dạ tử cung
  • Dinh dưỡng không đầy đủ: chế độ ăn thiếu dinh dưỡng như đạm, acid folic, vitamin A… làm tăng tỷ lệ thai trứng

Triệu chứng của thai trứng 

Phụ nữ khi mang thai trứng sẽ có những triệu chứng sau đây:

  • Bị chậm kinh
  • Rong huyết: biểu hiện phổ biến nhất của thai trứng, xảy ra sau khi bị trễ kinh vài tuần. Máu âm đạo ra tự nhiên, máu loãng và có màu bầm đen, có thể ra ít hoặc nhiều trong nhiều ngày. 
  • Nghén nặng: tình trạng nôn nhiều và kéo dài, cơ thể mệt mỏi, xanh xao, phù nề
  • Vùng bụng dưới đau, nặng bụng
  • Huyết áp tăng, đạm niệu
  • Tử cung mềm, to ra nhanh hơn so với tuổi thai 
  • Khi đến giữa thai kỳ không sờ được phần thai, không nghe được tim thai 
  • Nếu thai trứng toàn phần sẽ xảy ra tình trạng thiếu máu, thai phụ có biểu hiện mệt mỏi, xanh xao, niêm mạc nhợt, bị hoa mắt chóng mặt
  • Dấu hiệu tiền sản giật
  • Triệu chứng cường giáp: nhịp tim nhanh, mệt mỏi, đồ mồ hôi, run tay

Triệu chứng của thai trứng đa dạng nên rất dễ bị nhầm lẫn với các bệnh lý sản khoa như thai chết lưu, chửa ngoài tử cung, u xơ tử cung….

Nguy hiểm của khi mang thai trứng

Thai trứng không được chẩn đoán và điều trị sớm có thể kéo theo nhiều biến chứng nguy hiểm cho sức khỏe phụ nữ. 

  • Gây chảy máu âm đạo khiến cơ thể rơi vào tình trạng thiếu máu mạn tính
  • Khi thai trứng bị kích thích dẫn đến sảy tự nhiên sẽ làm cho tử cung bị chảy máu nhiều và sản phụ rơi vào tình trạng sốc mất máu, nguy hiểm cho tính mạng
  • Thai trứng xâm lấn thành tử cung làm cho thành tử cung khó đàn hồi, nguy cơ cao bị băng huyết hoặc dễ sót trứng, sót nhau thai và phải cắt toàn bộ tử cung
  • Thai trứng ác tính còn xuyên qua các lớp tử cung, lòng tử cung bị thủng dẫn đến xuất huyết dữ dội tràn ngập ổ bụng
  • Khi thai trứng không điều trị dứt điểm sẽ tiến triển thành ung thư nguyên bào nuôi đòi hỏi phải điều trị bằng hóa trị khiến khả năng có thai lại sẽ khó khăn hơn

Chẩn đoán thai trứng bằng cách nào?

Đi khám thai định kỳ là cách an toàn và nhanh nhất để phát hiện sớm tình trạng thai trứng. Có 2 biện pháp chẩn đoán giúp phát hiện thai trứng là chẩn đoán hình ảnh và xét nghiệm.

  • Chẩn đoán hình ảnh (siêu âm): Khi siêu âm sẽ thấy hình ảnh tuyết rơi hoặc lỗ chỗ như tổ ong, nhìn thấy được nang hoàng tuyến hai bên, không thấy phôi thai (thai trứng toàn phần), thấy một phần bánh rau bất thường (thai trứng bán phần)
  • Xét nghiệm: Các xét nghiệm được áp dụng là định lượng beta-hCG, định lượng estrogen và định lượng HPL (human placental lactogen)

Siêu âm phát hiện thai trứng

Biện pháp điều trị thai trứng

Điều trị thai trứng sẽ được chỉ định bằng hai phương pháp là nạo hút và phẫu thuật cắt tử cung dự phòng:

Nạo hút thai trứng

  • Bác sĩ sẽ dùng dụng cụ nong cổ tử cung kết hợp với máy hút để hút trứng. 
  • Sau đó dùng kìm hình tim, thìa to và thìa cùn nạo lại để tránh sót trứng
  • Sau thủ thuật bệnh nhân sẽ được uống kháng sinh để đề phòng nhiễm khuẩn

Phẫu thuật cắt tử cung dự phòng

Nếu thai trứng xâm lấn tử cung hoặc có nguy cơ biến chứng thành ung thư nguyên bào nuôi sẽ được chỉ định cắt tử cung dự phòng. 

Phương pháp này chỉ được áp dụng đối với phụ nữ trên 35 tuổi, đã có con hay có bệnh lý tại tử cung phối hợp. 

Theo dõi sau nạo hút trứng như thế nào?

Sau nạo hút thai trứng, các mẫu mô đều được gửi xét nghiệm giải phẫu bệnh lý nhằm xác định xem thai trứng lành tính hay ác tính. 

Thông thường, cấu trúc và sinh lý tử cung sẽ trở lại bình thường sau nạo hút thai trứng 3 đến 4 tuần. Trường hợp sau nạo hút thai trứng tử cung còn to, âm đạo vẫn ra máu thì có thể thai trứng đã biến chứng thành ung thư nguyên bào nuôi. 

Bên cạnh đó, từ sau nạo đến khi nồng độ hCG xuống âm tính, bác sĩ sẽ định lượng nồng độ hCG mỗi tuần:

  • Giãn cách thời điểm định lượng hCG nếu các kết quả trước đó đều âm tính
  • Nếu kết quả nồng độ hCG không giảm và cao bất thường rất có thể đã chuyển biến thành ác tính

Sau thai trứng bao lâu có thể mang thai?

Thai trứng là bệnh lý không ảnh hưởng đến khả năng sinh sản về sau này của người phụ nữ, kể cả đã trải qua hóa trị. Bệnh không làm tăng nguy cơ thai chết lưu, dị tật bẩm sinh, sinh non và nhiều biến chứng khác. 

Đối với những người vừa nạo hút thai trứng, tốt nhất nên trì hoãn việc mang thai sau tối thiểu 2 năm. Vì khoảng thời gian này cần thiết cho việc theo dõi và tiên lượng nguy cơ bệnh có chuyển biến thành ác tính hay không. 

Việc có thai lại quá sớm trước thời gian này sẽ làm tăng nguy cơ tái phát thai trứng hoặc biến chứng thành ung thư nguyên bào nuôi, thai lưu, sảy thai. 

Chị em có thể tránh thai bằng các biện pháp không can thiệp vào tử cung như dùng bao cao su, canh ngày rụng trứng hay xuất tinh ngoài âm đạo. Tránh tuyệt đối việc sử dụng thuốc tránh thai hay dụng cụ tử cung để tạo điều kiện tốt nhất cho việc theo dõi sau nạo hút thai trứng. 

Nếu có thai lại, thai phụ nên đi khám thường xuyên để theo dõi cho thai kỳ khỏe mạnh trong 3 tháng đầu để tránh những bất thường xảy ra và can thiệp nếu cần. 

Bài viết liên quan