Cấp cứu: 1900 636 555

024 3927 5568

  |  

Cấp cứu chảy máu mũi kịp thời

Chảy máu mũi là tai biến rất hay gặp, nó không phải là một bệnh mà là triệu chứng của nhiều bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra.

Một số nguyên nhân gây chảy máu mũi

Các nguyên nhân thường gặp nhất dẫn đến chảy máu mũi như sau:

Cao huyết áp

Đo huyết áp là một trong những động tác đầu tiên được thực hiện đối với bệnh nhân chảy máu mũi. Cao huyết áp là nguyên nhân thường gặp nhất của chảy máu mũi ở bệnh nhân trên 50 tuổi, vị trí chảy máu mũi thường ở phía sau.

Chảy máu mũi vô căn ở người trẻ

Người trẻ thường gặp phải chảy máu mũi vô căn, vị trí thường ở điểm mạch.

Sau khi đã ngưng chảy máu mũi, người bệnh được khám lâm sàng và thấy tình trạng giãn mạch ở vùng điểm mạch. Để tránh chảy máu mũi tái phát cần phải đốt vùng giãn mạch này. Có thể đốt bằng hóa chất, đôi khi bằng điện.

Đốt bằng hóa chất rất đơn giản: dùng que bông thấm dung dịch nitrate bạc hoặc acide trichloracetique áp vào vùng giãn mạch được nhìn rõ với một banh mũi. Đôi khi cần phải đốt nhiều lần.

Bao gồm trong nhóm nguyên nhân này còn có tình trạng chảy máu mũi có nguồn gốc nội tiết xuất hiện lúc dậy thì hoặc trong tháng đầu thai kỳ và cả chảy máu mũi do gãi vùng điểm mạch.

Gãi vùng điểm mạch thường kèm đóng vẩy hoặc ngứa da do staphylocoque (trong điều trị dùng pommade Aureomycine 3% hoặc pommade fucidine).

Một số nguyên nhân hiếm gặp hơn

  • Chấn thương mặt, đặc biệt là gãy xương chính mũi
  • Dị vật mũi ở trẻ con: phải nghĩ đến trước việc chảy máu mũi một bên ở trẻ em dưới 6 tuổi.
  • Một số bệnh nhiễm trùng: thương hàn, sốt tinh hồng nhiệt, cúm… và có bệnh cảnh rất gợi ý
  • U hốc mũi và u vùng mũi xoang: có thể do u lành (polyp chảy máu của vách ngăn, u máu hốc mũi…) hoặc u ác như ung thư vùng mũi xoang. Trong nhóm u ác vùng mũi xoang cần chú ý tìm ung thư xoang sàng và một số điểm gợi ý chẩn đoán: chảy máu mũi tái phát nhiều lần dù số lượng ít, một số bệnh nhân có nguy cơ như người làm nghề mộc, da…
  • Các bệnh chảy máu: chảy máu tái phát dù với lượng ít, có các sang thương u máu ở niêm mạc hốc mũi, miệng, môi, da mặt, tay, chân.

Các bệnh chảy máu này có thể tác động:

  • Giai đoạn mao mạch: ở mũi chủ yếu gặp bệnh Rendu-Osler là bệnh di truyền gen trội, thể hiện bằng chảy máu tái phát nhiều lần ở bệnh nhân 20 – 40 tuổi, xảy ra thình lình trên các sang thương u máu ở niêm mạc mũi, miệng và da (mặt, chi)
  • Hoặc giai đoạn tiểu cầu hoặc đông máu. Trường hợp này các xét nghiệm đông máu sẽ được yêu cầu một cách có hệ thống.
chảy máu mũi

Niêm mạc mũi rất dễ chảy máu vì có nhiều mạch máu và mạng lưới mao mạch dày đặc

Chẩn đoán chảy máu mũi

Chẩn đoán chảy máu mũi dựa vào: chảy máu mũi từng giọt hay chảy liên tục từ hai hốc mũi. Khám mũi với mục đích cố gắng tìm nguồn gốc chảy máu.

  • Nếu chảy máu mũi từ phần trước của vách ngăn: chảy máu từ điểm mạch
  • Nếu chảy máu mũi không phải từ phần trước của vách ngăn: khó có thể xác định nguồn gốc cháy máu bằng khám lâm sàng đơn giản.
  • Nếu chảy máu nhiều: thường không thể xác định nguồn gốc chảy máu. Một phần máu chảy sẽ được nuốt vào: khám họng với cây đè lưỡi cho phép xác định dễ dàng. Khám họng rất cần thiết vì chỉ có động tác này mới giúp phán đoán hiệu quả việc điều trị.

Độ trầm trọng của chảy máu mũi được phán đoán dựa vào các dấu hiệu của choáng: mạch nhanh, huyết áp kẹp, da xanh tái, khát nước, đổ mồ hôi, lạnh các chi… đi dần đến khó thở, phải tìm các dấu hiệu này bởi vì:

  • Việc hỏi bệnh nhân và gia đình về lượng máu mất đi rất dễ bị nhầm lẫn: bệnh nhân hoặc gia đình thường đánh giá lượng máu mất nhiều hơn thực tế vì tính gây ấn tượng mạnh của chảy máu mũi
  • Các thay đổi sinh học thường xảy ra muộn: công thức máu và Hct thường bình thường trong thời gian đầu dù chảy máu nhiều

Phải tìm bệnh cao huyết áp một cách hệ thống đồng thời phải phán đoán cơ địa bệnh nhân vì trong trường hợp chảy máu mũi nhiều, bệnh cảnh sẽ trở nên phức tạp hơn bởi sự mất bù do suy yếu thể trạng, đặc biệt ở người già.

Xử trí chảy máu mũi

Cấp cứu một bệnh nhân chảy máu mũi, phải nhanh chóng cầm máu rồi sau đó mới tìm nguyên nhân. Trường hợp chảy máu nặng phải chú ý tình trạng toàn thân của bệnh nhân bằng việc theo dõi sát mạch, huyết áp. Bệnh nhân cần được nghỉ ngơi yên tĩnh, ngồi hoặc nằm đầu cao, há miệng để thở và nhổ máu ra. Truyền dịch nếu có bệnh nhân bị trụy mạch, hạ huyết áp.

Truyền máu nếu Hb thấp dưới 50%, nhất là trường hợp chảy máu nặng, tốt nhất là truyền máu tươi liều nhỏ (100ml) nhiều lần.

chảy máu mũi

Trường hợp chảy máu nặng tốt nhất là truyền máu tươi liều nhỏ (100ml) nhiều lần

Thuốc corticoid như depersolone tiêm tĩnh mạch được sử dụng trong chảy máu là cần thiết, nếu không có chống chỉ định. Dùng kháng sinh đề phòng nhiễm khuẩn. 

Dùng thuốc đông máu để làm tăng vững bền thành mạch, giảm thời gian chảy máu như adrenoxyl, premarin, tranesamic acid… hoặc trực tiếp làm đông máu như vitamin K, sulfate de protamine. Cầm máu tại chỗ được thực hiện từ đơn giản đến phức tạp theo các bước sau:

Dùng hai ngón tay bóp nhẹ cánh mũi ép vào vách ngăn tương ứng điểm mạch Kisselbach trong vài phút, áp dụng trong trường hợp chảy máu ít, chảy máu ở điểm mạch Kisselbach.

Dùng bông có  tẩm dung dịch cầm máu như ôxy già 12 thể tích, ephedrin 1-3% nhét vào lỗ mũi, ép đè lên chỗ chảy máu.

Nhét mechè mũi trước: sau khi gây tê hốc mũi, dùng cuộn mechè có bề rộng 1 – 1,5cm, bề dài 50cm tẩm mỡ kháng sinh nhét vào mũi, chú ý nhét mechè có hình đáy võng để mechè không bị tụt xuống thành sau họng, nhét chặt từ sau ra trước cho tới khi đầy ra tận cửa mũi trước.

Dùng đè lưỡi kiểm tra xem máu có chảy xuống thành sau họng hay không, nếu không thấy chảy xuống là tốt. Thời gian lưu mechè từ 24 –  48 giờ.

Trường hợp chảy máu nhiều do chấn thương, tăng huyết áp… nếu nhét mechè mũi trước mà chưa cầm máu thì phải nhét mechè mũi sau.

Nhét mechè mũi sau: dùng cục gạc bịt kín cửa mũi sau để ngăn không cho máu chảy xuống thành sau họng, đường kính cục gạc khoảng 2 – 2,5cm, chiều cao 2,5cm có buộc dây ở giữa, mỗi đầu dài khoảng 30cm. Sau khi bịt kín được cửa mũi sau, phải tiếp tục nhét mechè mũi trước.

Trường hợp chảy máu mao mạch, nhất là ở trẻ em, có thể dùng các loại protein tự tiêu có tác dụng cầm máu như spongel.

Ở nhiều nước có nền y học tiên tiến, người ta dùng Merocel là một loại bọt xốp có hình hố mũi, đặt vào mũi, tưới nước, nó nở căng to ôm khít lòng hố mũi, máu cầm ngay mà bệnh nhân không đau. Hoặc dùng bong bóng cao su cho vào mũi rồi bơm căng, lúc lấy ra chỉ cần xì hơi, rất tiện.

chảy máu mũi

Merocel là một loại bọt xốp có hình hố mũi, đặt vào mũi ôm khít lòng hố mũi

Hiện nay ở nước ta đã dùng đông điện dưới sự hướng dẫn của nội soi để cầm máu được áp dụng rộng rãi.

Các trường hợp phức tạp phải điều trị ngoại khoa: nút mạch, thắt động mạch, điều trị nguyên nhân.

Những thông tin cung cấp trong bài viết của Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc chỉ có tính chất tham khảo, không thay thế cho việc chẩn đoán hoặc điều trị y khoa.

Theo dõi fanpage của Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc để biết thêm thông tin bổ ích khác: https://www.facebook.com/BenhvienHongNgoc/

Bài viết liên quan