1900 636 555

024 3927 5568

  |  

7 bệnh nguy hiểm trẻ thường mắc vào mùa hè

Ở trẻ em, do sức đề kháng kém, hệ miễn dịch còn non yếu chưa hoàn thiện nên vào mùa nắng nóng có nguy cơ cao mắc một số bệnh nguy hiểm. Chính vì vậy, việc trang bị kiến thức cần thiết về phòng ngừa các bệnh dễ mắc trong mùa hè cho trẻ là điều rất quan trọng mà cha mẹ cần làm.

Bác sĩ Phi Nga – Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Hồng Ngọc cho biết: Trong thời gian gần đây, số ca bệnh nhi thăm khám và điều trị các bệnh lý về đường hô hấp như viêm phổi, viêm tiểu phế quản, viêm mũi họng, viêm tai giữa tăng cao. Bên cạnh đó, cũng có một số ca mắc sốt xuất huyết và tay – chân – miệng. Trung bình một ngày khoa Nhi của bệnh viện khám ngoại trú cho gần 100 bệnh nhi, chỉ trường hợp nặng mới nhập viện, dự kiến số lượng bệnh nhân sẽ tăng nhiều trong thời gian tới.

Lý giải về việc số ca bệnh Nhi tăng nhanh vào thời điểm nắng nóng, bác sĩ Nga chia sẻ: “Sự thay đổi đột ngột nóng – lạnh trong mùa hè là một trong những nguyên nhân hàng đầu khiến trẻ dễ mắc các bệnh về hô hấp. Nhiệt độ mùa hè rất cao, khoảng 38, 39 độ C thậm chí có thời điểm lên tới 40 độ C. Trong khi đó, trẻ thường ở trong nhà với nhiệt độ khoảng 25, 26 độ. Khi ra ngoài, sự chênh lệch nhiệt độ quá cao khiến cơ thể trẻ không kịp thích nghi dẫn tới sự giãn nở không đều của phế quản. Từ đó gây ra bệnh viêm đường hô hấp. Ngoài ra, vi khuẩn, virus, nấm cũng là tác nhân gây bệnh thường gặp ở trẻ trong mùa hè.”

Dưới đây là 7 bệnh lý nguy hiểm ở trẻ trong mùa hè:

Viêm đường hô hấp

Viêm đường hô hấp trên được chia thành: Viêm đường hô hấp trên cấp tính và viêm đường hô hấp trên mạn tính.

Triệu chứng thường gặp đầu tiên của viêm đường hô hấp là sốt, sốt nhẹ, đôi khi sốt cao kèm theo rét run, ho, hắt hơi và chảy nước mũi.

Triệu chứng thường gặp đầu tiên của viêm đường hô hấp là sốt, chảy nước mũi

Viêm đường hô hấp trên là tổ hợp bệnh bao gồm: Cảm lạnh, viêm mũi họng, viêm họng, viêm xoang, viêm thanh quản. Mặc dù có nhiều bệnh đơn lẻ nhưng chúng đều có một số biểu hiện chúng ta dễ nhận thấy, bao gồm: sốt, hắt hơi, sổ mũi, ngạt mũi, đau rát họng, ho, khàn tiếng có khi mất tiếng, mệt mỏi, đau đầu, đau mỏi cơ khớp…

Bệnh tay – chân – miệng

Bệnh tay chân miệng do vi trùng đường ruột Ente’virus (E71) và Coxcakieruses gây ra. Bệnh lây chủ yếu theo đường tiêu hoá, từ người sang người.

Ban đầu, trẻ thường sốt nhẹ, đau họng, đau miệng, chảy nước miếng và biếng ăn hơn. Trẻ nhỏ thường đau khóc, bỏ bú. Đặc biệt, những vết loét đỏ như vết lở miệng sẽ xuất hiện nhiều ở vòm miệng, môi trong, lợi, lưỡi… Quan sát kĩ có thể thấy đó những vết phát ban dạng phỏng nước, hoặc vết nổi cộm trên da ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, đầu gối, mông trẻ.

Tuy nhiên, nếu trẻ sốt hơn 39 độ C, bứt rứt, khó ngủ, quấy khóc, ngủ li bì, thỉnh thoảng giật mình và giơ hai tay lên thì cần đưa đến bệnh viện kịp thời. Nếu để trẻ bệnh có thể trở nặng, gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong.

Bệnh thủy đậu

Bệnh thủy đậu do siêu vi Varicella zoster gây ra với biểu hiện là các tổn thương dạng bóng nước trên da và niêm mạc. Sau khi siêu vi xâm nhập cơ thể, phải qua khoảng 10-20 ngày ủ bệnh thì người bệnh mới xuất hiện các triệu chứng như sốt, đau đầu, uể oải, chán ăn… Lúc này, trên da người bệnh có thể xuất hiện hồng ban có đường kính vài milimet và sau 1-2 ngày mới xuất hiện nốt đậu. Nốt đậu nổi nhiều là dấu hiệu cảnh báo bệnh có thể diễn tiến nặng.

Bệnh thủy đậu do siêu vi Varicella zoster gây ra với biểu hiện là các tổn thương dạng bóng nước trên da và niêm mạc

Một số vấn đề cần lưu ý dành cho người bệnh thủy đậu:

– Bệnh thủy đậu lây truyền rất nhanh, trong khoảng thời gian 5 ngày trước và sau khi phát ban. Bệnh có thể lây gián tiếp qua tiếp xúc với quần áo, vật dụng nhiễm dịch tiết từ các vết mụn phồng rộp của người bệnh. Vì vậy, người bệnh cần kiêng đến nơi đông người để tránh lây lan bệnh

– Nghỉ ngơi trong phòng riêng, thoáng khí, thời gian cách ly là khoảng 7-10 ngày từ lúc bắt đầu phát ban cho đến khi các nốt phỏng nước khô vảy hoàn toàn.

– Hạn chế gãi nốt mọc thủy đậu, gây trầy xước, nhiễm trùng. Có thể tắm bằng nước ấm hàng ngày, lau rửa nhẹ nhàng, tránh mụn nước bị vỡ gây rát, dễ nhiễm khuẩn và để lại sẹo sau này.

– Đối với các nốt đỏ bị vỡ, cần vệ sinh sát khuẩn cẩn thận rồi bôi thuốc xanh methylen để tránh nhiễm trùng, nhanh liền sẹo.

– Đảm bảo chế độ ăn uống giàu dinh dưỡng, bổ sung vitamin A, C, kẽm để nâng cao hệ miễn dịch cho cơ thể; kiêng đồ nếp và đồ tanh, hạn chế ăn đồ cay nóng, các món xào nhiều dầu mỡ.

– Nếu tự điều trị mà nhận thấy dấu hiệu bệnh không giảm thì cần đưa ngay bệnh nhân đến bệnh viện để có những phương pháp điều trị tốt hơn.

Sốt virus

Triệu chứng của sốt virus bao gồm sốt cao, đau mỏi người, đau đầu kèm một số triệu chứng của viêm đường hô hấp trên như: hắt hơi, sổ mũi,

Đặc biệt, trên da trẻ xuất hiện các ban đỏ mịn, thường vào ngày thứ 2-4 của bệnh. Ban thường tuần tự xuất hiện từ đầu mặt xuống thân mình, chân và khi biến mất cũng theo tuần tự như vậy. Ngoài ra, trẻ thường nổi hạch ở cổ, gáy, các hạch này có thể đau và tồn tại lâu mới mất đi.

Sốt virus diễn biến lành tính trong 3-5 ngày, điều trị chủ yếu là hạ sốt, bù nước điện giải bằng đường uống, bảo đảm dinh dưỡng và chăm sóc mũi họng tốt để hạn chế bội nhiễm.

Tuy nhiên, một số trường hợp có thế xuất hiện biến chứng nên cần theo dõi để phát hiện, đưa trẻ đến cơ sở y tế khám và điều trị kịp thời.

Tiêu chảy cấp

Tiêu chảy cấp có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng khoảng 80% xảy ra ở trẻ dưới 2 tuổi.

Nguyên nhân gây tiêu chảy có thể là do vi khuẩn (lỵ, thương hàn, tả…), virus, nấm, ký sinh trùng đường ruột.

Nguyên nhân gây tiêu chảy có thể là do vi khuẩn (lỵ, thương hàn, tả…), virus, nấm, ký sinh trùng đường ruột

Khi trẻ bị tiêu chảy cấp, việc quan trọng nhất là đánh giá mức độ mất nước và bù nước điện giải bằng đường uống dung dịch oresol. Việc truyền dịch chỉ thực hiện khi trẻ mất nước nặng, nôn nhiều, không thể uống được hoặc đi ngoài rất nhiều không thể bù kịp bằng đường uống. Việc sử dụng kháng sinh và men tiêu hóa vi sinh cần có sự chỉ định của bác sĩ, tuyệt đối không được tự ý dùng thuốc trị tiêu chảy.

Sốt xuất huyết

Sốt xuất huyết Dengue là bệnh do virus lây truyền qua đường muỗi đốt.

Bệnh nhi thường khởi phát bệnh với triệu chứng sốt cao đột ngột, thời gian sốt từ 2- 7 ngày; kèm biểu hiện sau: da sung huyết, đau nhức cơ, đau khớp, đau đầu, đau họng, viêm kết mạc mắt, mệt mỏi, buồn nôn và nôn. Ở trẻ nhũ nhi có thể kèm triệu chứng ho, sổ mũi, tiêu chảy.

Sau đó, bệnh nhi xuất hiện các nốt xuất huyết trên da. Những chấm đỏ này không biến mất khi ấn vào, thường ở cẳng tay, cẳng chân, nách, ngực, thắt lưng, xuất huyết niêm mạc như chảy máu mũi, chảy máu răng, đi cầu ra máu. Gan có thể to sau vài ngày.

Một số trường hợp diễn biến đến sốc sốt xuất huyết với biểu hiện chân tay lạnh, mạch nhanh, huyết áp kẹp không đo được. Những trường hợp trên phải được cấp cứu ngay, đề phòng diễn biến xấu nguy hiểm tính mạng.

Viêm não Nhật Bản

Thời tiết mùa hè nóng nực là cơ hội để bệnh viêm não Nhật Bản B có khả năng bùng phát cao. Bệnh do virus Arbo gây ra. Đây là virus gây bệnh được muỗi truyền từ súc vật sang người.

Bệnh gặp chủ yếu ở trẻ em dưới 15 tuổi trong đó đa số là trẻ từ 1-5 tuổi. Bệnh có tỉ lệ tử vong khá cao hoặc để lại di chứng thần kinh nặng nề.

Triệu chứng viêm não Nhật Bản thường gặp là: sốt cao, đau đầu, nôn, rối loạn ý thức, co giật rồi đi vào hôn mê nhanh chóng. Khi trẻ có những biểu hiện trên cần nhanh chóng đưa trẻ đến cơ sở y tế để được điều trị kịp thời nhằm hạn chế tỷ lệ tử vong và di chứng sau này.

Triệu chứng thường gặp đầu tiên của viêm đường hô hấp là sốt

Biện pháp phòng ngừa viêm não Nhật Bản hữu hiệu nhất là tiêm chủng vắc-xin viêm não Nhật Bản B.

Trên đây là 7 loại bệnh nguy hiểm con trẻ thường mắc vào mùa hè mà cha mẹ cần hết sức lưu ý. Trong trường hợp trẻ mắc bệnh, cha mẹ cần sát sao theo dõi, nếu thấy các triệu chứng chuyển nặng thì ngay lập tức đưa trẻ tới bệnh viện để được thăm khám và điều trị kịp thời, đồng thời có biện pháp phòng tránh bệnh mùa hè để không dẫn đến những biến chứng nguy hiểm cho trẻ.

Bên cạnh đó, bác sĩ Phi Nga khuyến cáo thêm tới các bậc phụ huynh: “Trong mùa hè, nên tránh sự thay đổi đột ngột từ điều hòa ra ngoài môi trường. Nên để nhiệt độ điều hòa từ 26 – 28 độ, không nên để quá thấp. Trước khi ra ngoài cha mẹ phải tắt điều hòa từ 10 – 15 phút, sau đó mới cho trẻ ra. Ngoài ra, phải vệ sinh cho trẻ sạch sẽ, chế biến thức ăn đảm bảo vệ sinh. Với những trẻ khi có các biểu hiện sốt, chảy nước mũi hoặc các bệnh lý về truyền nhiễm thì không nên cho trẻ đi học, tới nơi đông người hay chơi với các bạn khác vì dễ lây nhiễm”. 

Bài viết liên quan