1900 636 555

024 3927 5568

  |  

Bí tiểu sau sinh có nguy hiểm không?

Bí tiểu ở người mẹ sau sinh là một trong những biến chứng thường gặp, nhất là khi sinh ngả âm đạo. Cần hiểu rõ tình trạng bệnh để có biện pháp phòng tránh cũng như điều trị tích cực giúp cho người mẹ giải phóng được những điều khó chịu.  

Tình trạng bí tiểu sau sinh ở phụ nữ

Bí tiểu là tình trạng rối loạn đường tiểu, biểu hiện triệu chứng mắc đi tiểu những không thể tiểu được, và khi thăm khám gõ thấy có cầu bàng quang. Những sản phụ mắc chứng bí tiểu sau sinh thường có cảm giác căng tức khi ấn bụng. Sau khi hướng dẫn sản phụ tập đi tiểu như ngồi theo tư thế tự nhiên, hay chườm ấm lên bụng vùng dưới rốn nhưng sản phụ vẫn không tự đi tiểu được, và cảm giác căng tức và khó chịu ngày càng tăng.

Nguyên nhân nên tình trạng bí tiểu sau khi sinh

Với phụ nữ đẻ thường

Trong quá trình chuyển dạ, khi ngôi thai xuống thấp, thường là đầu thai nhi đè vào cổ bàng quang hay niệu đạo gây ứ đọng nước tiểu. Từ đó làm bàng quang căng giãn, khi giãn nhiều làm mất trương lực và làm co thắt cơ cổ bàng quang. 

Một số trường hợp trong lúc sinh phải cắt tầng sinh môn để giúp cho đầu thai nhi sổ ra được dễ dàng hơn thì sau khi may lại, vết thương sẽ sưng nề làm cho người mẹ khi đi tiểu không dám rặn tiểu vì đau. 

Ngoài ra khi bí tiểu, động tác thông tiểu nhiều lần gây viêm bàng quang, làm cho triệu chứng bí tiểu thể hiện rõ.

Với phụ nữ đẻ mổ

Thuốc gây tê tủy sống có hàm lượng Bupivacain và Fentanyl (thuộc nhóm opioid) có tỷ lệ gây bí tiểu 10 – 15% sau mổ. Do đó, phải kiên nhẫn chờ cho đến khi hết tác dụng của thuốc thì hiện tượng bí tiểu của mẹ mới được chẩn đoán rõ ràng. Ngoài ra đối với sản phụ sinh mổ, tổn thương do thủ thuật thô bạo, dập bàng quang gây liệt bàng quang gây bí tiểu.

Biểu hiện lâm sàng của bí tiểu

Biểu hiện trên lâm sàng là sau khi sinh con khoảng 3-4 giờ đồng hồ trở đi, bà mẹ có cảm giác buồn tiểu nhưng không thể tiểu được. Khám lâm sàng thấy bụng mềm, vùng dưới rốn là khối tử cung co hồi tốt, còn xuất hiện một khối cầu khác là cầu bàng quang. Khi ấn bụng có cảm giác căng tức. Sau khi hướng dẫn tập đi tiểu như ngồi theo tư thế tự nhiên, hay chườm ấm lên bụng vùng dưới rốn nhưng sản phụ vẫn không tự đi tiểu được, và cảm giác căng tức và khó chịu ngày càng tăng.

Biểu hiện trên lâm sàng của bí tiểu sau sinh là mẹ có cảm giác buồn tiểu nhưng không thể tiểu được

Điều trị bí tiểu cho phụ nữ sau sinh

Nguyên tắc điều trị bí tiểu

  • Tập đi tiểu để tạo lại phản xạ đi tiểu.
  • Dùng kháng sinh chống nhiễm trùng.
  • Dùng kháng viêm chống phù nề chèn ép cổ bàng quang.
  • Hỗ trợ tăng trương lực bàng quang giúp khả năng co bóp bàng quang trở lại bình thường.

Quy trình xử trí khi bí tiểu

Tập đi tiểu

Tập đi tiểu theo tư thế ngồi tự nhiên, tránh nhịn tiểu do đau

Thông tiểu

Đặt sonde tiểu và lưu trong 24 giờ nếu tập đi tiểu mà sản phụ vẫn không tiểu được. Đặt sonde tiểu giữ lại và tháo kẹp mỗi 3 – 4 giờ/lần, tạo lại phản xạ đi tiểu. Khi tháo kẹp, người mẹ phải tập rặn tiểu qua sonde. Trước khi rút sonde tiểu, kẹp sonde tiểu 4 giờ, chờ cảm giác mót tiểu, cho người mẹ rặn tiểu qua sonde, nếu tiểu được qua sonde thì mới rút sonde.

Các điểm cần lưu ý khi thông tiểu:

  • Dụng cụ (nhất là sonde tiểu) phải tuyệt đối vô khuẩn để tránh nhiễm khuẩn ngược dòng.
  • Kỹ thuật thực hiện phải đúng quy trình và tuyệt đối vô khuẩn.
  • Không được dùng sonde tiểu có kích cỡ quá lớn gây tổn thương, hay phù nề.
  • Động tác phải nhẹ nhàng, tránh thô bạo gây xây xước đường tiết niệu, nếu vướng phải làm lại hoặc bảo bệnh nhân há miệng thở đều để giảm co thắt niệu đạo.
  • Nếu cần lấy nước tiểu thử vi khuẩn phải lấy nước tiểu giữa giữa dòng, nên lấy trực tiếp vào ống nghiệm vô khuẩn.
  • Không để lưu sonde tiểu quá 48 giờ (trừ trường hợp có chỉ định của bác sĩ).
  • Không thông tiểu nhiều lần trong ngày.
  • Nếu bàng quang của bệnh nhân quá căng, phải rút nước tiểu chậm và không rút hết nước tiểu trong bàng quang, vì sẽ làm giảm áp lực đột ngột trong bàng quang và gây chảy máu
  • Cách dự phòng chảy máu là đặt sonde tiểu cỡ nhỏ cho chảy chậm, hoặc đặt sonde tiểu cỡ bình thường và kẹp rồi tháo rồi kẹp để làm giảm áp lực từ từ.
  • Theo dõi bàng quang trong và sau khi thông tiểu để phát hiện những dấu hiệu bất thường và có xử trí kịp thời.

Sử dụng thuốc

Dùng thuốc kháng sinh chống nhiễm trùng thường được chỉ định như cephalexin, doncef, augmentin. Những thuốc này dùng bằng đường uống và liên tục trung bình trong 7 ngày.

Dùng thuốc kháng viêm để chống phù nề chèn ép vào cổ bàng quang. Thuốc chống phù nề ví dụ như: alphachymotrypsin, buscopan…

Dùng thuốc hỗ trợ tăng cường trương lực và co bóp bàng quang bằng thuốc prostigmin hay xatral dùng 4 – 5 ngày giúp khả năng co bóp bàng quang trở lại bình thường. 

Ngoài ra kết hợp các thuốc vitamin B1, vitamin B6 và vitamin B12 nhằm tăng sức khỏe.

Cách phòng tránh bí tiểu

  • Mẹ cần lưu ý vận động sớm.
  • Uống nhiều nước.
  • Không được nín tiểu do đau sau đẻ. Khuyến khích người mẹ tự đi tiểu không nên lo sợ đau đớn đối với vết may tầng sinh môn.
  • Tập ngồi tiểu theo tư thế ngồi tiểu tự nhiên.
  • Rửa hoặc ngâm vùng sinh dục bằng nước ấm (dội âm hộ bằng nước ấm), hoặc nước rửa vệ sinh phụ khoa như Gynofar, Lactacyd FH.
  • Luôn luôn giữ khô vùng âm hộ.
  • Tránh nhiễm trùng vết may tầng sinh môn.
  • Chế độ dinh dưỡng đầy đủ giúp phục hồi sức khỏe sau sinh.

    Mẹ nên uống nhiều nước để phòng tránh tình trạng bí tiểu

Khi nào nên nhập viện

Với những chia sẻ về cách phòng ngừa và điều trị bí tiểu sau sinh nêu trên mà tình trạng của mẹ vẫn không thuyên giảm, hoặc sau khi sinh nếu thai phụ đi tiểu thấy đau hoặc có cảm giác nóng rát khi đi tiểu, thậm chí còn không muốn đi tiểu và cố gắng “nhịn” trong khi lại buồn tiểu liên tục… thì cần đến cơ sở y tế để được bác sĩ khám và chẩn đoán. Bác sĩ sẽ chỉ định cụ thể như cho dùng thuốc kháng sinh chống nhiễm khuẩn, thuốc kháng viêm chống phù nề chèn ép vào cổ bàng quang và nguyên tắc sau cùng hỗ trợ tăng cường trương lực bàng quang giúp khả năng co bóp bàng quang trở lại bình thường.

Bí tiểu sau sinh là một biến chứng thường gặp, không gây nguy hại cho bà mẹ. Tuy nhiên nó gây nên cảm giác đau tức và khó chịu, ảnh hưởng không nhỏ tới bà mẹ sau sinh. Tần suất mắc bệnh khoảng 13,5%. Do đó phụ nữ sau sinh cần phải bổ sung thêm kiến thức về chứng bệnh này để phòng ngừa, điều trị kịp thời để quá trình phục hồi sau quá trình vượt cạn được diễn ra nhanh chóng.

Bài viết liên quan