1900 636 555

024 3927 5568

  |  

Chẩn đoán và can thiệp tim mạch qua ống thông I

Hệ tuần hoàn của bạn và vai trò của quả tim
 
Trái tim của bạn là một khối cơ hoạt động liên tục, bóp đẩy khoảng 8550 lít máu mỗi ngày vào hệ tuần hoàn.
Dòng máu được đưa tới các cơ quan nhờ hệ động mạch, các động mạch cấp máu chia nhỏ dần, lớn nhất là động mạch chủ. Máu mang oxy và các chất dinh dưỡng tới nuôi các tạng, trở về tim qua hệ tĩnh mạch. Máu nghèo oxy trở về tim và được tim bơm lên phổi làm giàu oxy.
cau-tao-cua-tim-mach-va-vai-tro-quan-trong-cua-chung-3
Quá trình di chuyển của máu từ tim đến tạng lên phổi về tim là một chu trình tuần hoàn. Mỗi nhát bóp của tim thể hiện một nhịp đập của mạch, do đó đếm nhịp mạch sẽ biết được tần số bóp của tim.
Tim được nuôi dưỡng bằng hệ động mạch Vành, bao gồm động mạch Vành trái và phải, sẽ phân chia thành các nhánh nhỏ hơn tới nuôi từng vùng cơ tim. Động mạch Vành xuất phát từ gốc động mạch chủ, có lượng oxy cao để đáp ứng đủ nhu cầu của tim.
Các tạng khác được cung cấp máu bởi hệ động mạch Ngoại biên, hệ động mạch Cảnh cung cấp máu cho não, động mạch Dưới đòn cung cấp máu cho tay, động mạch Thận cung cấp máu cho thận, động mạch Chậu và Đùi cung cấp máu cho phần chậu và chân.
Bệnh lý động mạch vành
 
Bệnh mạch Vành xảy ra khi cơ tim bị thiếu oxy nuôi dưỡng. Nguyên nhân thường gặp là sự lắng đọng cholesterol tạo nên các mảng xơ vữa làm hẹp hay tắc hoàn toàn lòng mạch.
Sự phát triển lớn dần cảu mảng xơ vữa làm lòng mạch vành bị thu nhỏ dần dẫn tới sự giảm dần lượng oxy cung cấp cho cơ tim. Với sự thiếu hụt vừa phải, cơ tim vẫn hoạt động được ở trạng thái bình thường. Nhưng khi nhu cầu oxy của cơ tim tăng cao (trong những lúc cơ thể gắng sức như chạy, leo cao, hay lúc gặp căng thẳng) thì mạch vành không cung cấp đủ và gây hiện tượng thiếu oxy cho cơ tim.
benh-dong-mach-vanh
Cơ tim thiếu oxy sẽ có triệu chứng như: tức nặng, thắt nghẹn vùng sau xương ức hoặc vùng trước tim, có thể kèm theo buồn nôn, nôn, thở gấp, vã mồ hôi lạnh.
Khi lòng mạch Vành hẹp đáng kể, cơ tim thiếu oxy thường xuyên, các triệu chứng trên sẽ xảy ra liên tục với mức độ nguy hiểm tăng dần. Khởi đầu bằng các cơn đau thắt ngực, sau đó là đột quị do nhồi máu cơ tim- sự tắc mạch Vành hoàn toàn- là triệu chứng nặng nhất đe dọa tính mạng người bệnh.
Mặc dù tỉ lệ tử vong do tắc động mạch Vành gây nhồi máu cơ tim và đột quị đã được khống chế, nhưng tại Mỹ cứ mỗi 34 giây lại có một ca tử vong.
Có rất nhiều yếu tố nguy cơ làm tăng tỉ lệ mắc bệnh nằm trong thói quen của người bệnh. Sự phòng bệnh tốt nhất chính là sự tự nhận thức trước nguy cơ, và tự bảo vệ chính mình.
Các yếu tố nguy cơ với bệnh mạch vành
 
Có hai nhóm nguy cơ: những nguy cơ không thể thay đổi như giới tính, lịch sử gia đình, tuổi. Bên cạnh đó, một nhóm nguy cơ có thể làm thay đổi đáng kể tỉ lệ mắc bệnh là:
1. Hút thuốc lá: Những người hút thuốc lá có nguy cơ mắc bệnh gấp hai lần người không hút. Khi dừng hút thuốc, nguy cơ mắc     bệnh của người đó sẽ giảm dần đi tùy theo số lượng thuốc và thời gian mà người đó đã sử dụng trước đây.
thuoc
2. Tăng huyết áp (THA): Nếu bạn bị THA, bạn cần sự giúp đỡ của bác sĩ để kiểm soát được huyết áp của mình. Với các bữa ăn ít      mỡ, ít mặn; làm giảm cân; tập thể dục thường xuyên; hạn chế lượng nước uống vào; sử dụng thuốc hợp lý sẽ giúp bạn có      một có một huyết áp ở giới hạn tốt.
3. Rối loạn mỡ máu.
4. Tiểu đường.
5. Ít vận động.
6. Béo phì.
7. Căng thẳng.
PGS.TS. Nguyễn Quang Tuấn

Bài viết liên quan