1900 636 555

024 3927 5568

  |  

Bạc thau điều kinh, giải độc

Bạc thau còn có tên khác là bạc sau, bạch hoa đằng, chấp miên… Tên khoa học: Argyreia acuta Luor., họ bìm bìm (Convolvulaceae). Cây mọc ở các bờ bụi, nhất là trên triền đồi núi đá vôi các tỉnh phía Bắc, từ đèo Hải Vân trở ra. Ngoài loài bạc thau trên còn một số loài sau:

bac-thau-dieu-kinh-giai-doc-2

– Bạc thau hoa đầu (Argyreia capitata Luor.): mọc ở cả các tỉnh phía Bắc và phía Nam, ở các lùm bụi, vùng núi Hoà Bình, Thái Nguyên, Hà Nội, Đồng Nai, Khánh Hoà.
– Bạc thau Malabar (Argyreia malabarica Choisy.) mới thấy có ở Kom Tum.
– Bạc thau lá mềm (Argyreia mollis (Burn. F.) Choisy.) có từ Quảng Trị trở vào.
– Bạc thau tím, thảo bạc gân (Argyreia nervossa (Burn. F.) Bojer. Cây được nhập từ Ấn Độ, có ở thành phố Hồ Chí Minh.
– Bạc thau lá tù, bạc thảo (Argyreia obtusifolia Luor.).
– Bạc thau xám tro, bạc thau nhóm (Argyreia osyrenssis (Roth.) Choisy. Cây có ở Kom Tum, Đắk Lắk.
Theo Đông y, bạc thau vị hơi đắng, tính mát, có tác dụng điều kinh, sát khuẩn, tiêu viêm, giải độc. Thường được dùng trong dân gian, làm thuốc chữa bí tiểu tiện, đái ít, rát buốt, nước tiểu đục, kinh nguyệt không đều, rong kinh, bạch đới, mụn nhọt lở ngứa, sốt rét, viêm khí quản cấp và mạn, ho.
Bạc thau dùng làm thuốc chữa bệnh trong các trường hợp:

bac-thau-dieu-kinh-giai-doc-1

+ Khí hư, kinh nguyệt không đều: lá bạc thau 10g, rễ xích đồng nam 10g, vỏ thân mía tía 10g, rễ cỏ tranh 10g, rễ móc diều 8g, cỏ hàn the 8g, lá huyết dụ 8g. Phơi khô. Sắc uống. Hoặc bạc thau 20g, rau giền gai 15g. Sắc uống.
+ Rong kinh, rong huyết: lá bạc thau 30 – 40g, rửa sạch, giã nát, thêm ít nước sôi để nguội, vắt lấy nước để uống. Bã đắp lên đỉnh đầu. Hoặc lá bạc thau 20g, ngải cứu 20g, lá bạch đầu ông 20g. Giã nát vắt lấy nước để uống.
+ Băng huyết: lá bạc thau 10g, ngổ trâu 16g, sao vàng. Sắc uống trong ngày. Dùng trong 5 – 7 ngày. Có thể dùng dạng tươi với liều gấp 3 – 5 lần, rửa sạch, giã nát, thêm nước vắt lấy nước để uống.
+ Mụn nhọt, lở loét: lá bạc thau 30g, lá xuyên tiêu 30g, lá trầu không 20g, thuốc lào 5g. Giã nát, đảo trên chảo cho nóng, đắp vào chỗ lở loét và băng lại.
Mỗi ngày thay 1 lần. Hoặc lá bạc thau khô giã nhỏ mịn, rắc vào vết loét. Thuốc có tác dụng ngừng chảy nước vàng.
+ Sưng tấy ứ huyết: lá bạc thau 10g, lá quýt rừng 10g. Sắc uống. Hoặc lá bạc thau tươi 30g, lá xuyên tiêu 30g, lá dây đòn gánh 30g. Tất cả giã nát, cho vào chảo, đảo nóng với ít rượu. Đắp lên chỗ sưng đau. Ngày làm 1 lần.

bac-thau-dieu-kinh-giai-doc-3

+ Chữa ho trẻ em: lá bạc thau 6 – 8g, lá chua me 6 – 8g, lá xương sông 6 – 8g. Tất cả giã nát, vắt lấy nước cho uống (có thể thêm ít đường phèn cho dễ uống).
+ Chữa lở ngứa, rôm sảy, ghẻ lở: lấy lá bạc thau nấu với nước để tắm, rửa.

Bài viết liên quan